Kính áp tròng phân phối thuốc - Đánh giá áp xe não qua MRI




1. Kỹ thuật hình ảnh giúp đánh giá áp xe não

Một nghiên cứu mới đây cho thấy chụp cộng hưởng từ tăng khuyếch tán (diffusion-weighted magnetic resonance imaging-DWI) có khả năng phân biệt áp xe não và khối u não ác tính.

Khuyếch tán có giới hạn trong nước hạn chế, biểu thị bởi độ cao trên DWI và hệ số khuyếch tán biểu kiến (apparent diffusion coefficient-ADC) thấp, ở các tổn thương hình tròn, giúp phân biệt áp xe não và khối u hoại tử.

Trong khi khối áp xe cần được chọc hút ở trung tâm, thì các khối u não hoại tử lại cần được sinh thiết thành của ổ hoại tử để chẩn đoán. Do đó, mặc dù không đặc trưng cho áp xe, khuyếch tán hạn chế trong nước là một dấu hiệu hình ảnh cộng hưởng từ (MR) quan trọng và có ích trong các chiến lược phẫu thuật thần kinh điều trị những tổn thương hình tròn.

Nghiên cứu 2 phần này bao gồm xem xét hồi cứu hình ảnh chụp MR ở 5 bệnh nhân bị tổn thương hình tròn cuối cùng được chứng minh là áp xe não và tổng kết y văn gần đây về DWI trong áp xe não.

Dấu hiệu DWI và việc tính toán ADC được thực hiện ở 5 bệnh nhân, cũng như các hình ảnh MR chuẩn. Tất cả các tổn thương có mật độ cao rõ rệt trên DWI và ADC giảm. Trong số 39 ca áp xe được báo cáo trước đây, 38 ca có tăng mật độ trên DWI và có ADC giảm.

Trong số 165 tổn thương không sinh mủ có kết quả DWI, 87 tổn thương có mật độ thấp hoặc ngang bằng, 78 tổn thương có những mật độ cao khác nhau, và một số ít có biểu hiện mật độ cao như ổ áp xe. Phần lớn những tổn thương này là u nguyên sống và u biểu bì, không dễ nhầm với áp xe.
(Theo Doctor's Guide)

2. Kính áp tròng giúp phân phối thuốc

Dùng thuốc nhỏ mắt là phương pháp phổ biến, nhưng không hiệu quả vì chỉ khoảng 5% lượng thuốc thấm vào mắt, do thuốc sẽ bị hòa lẫn với nước mắt, sau đó chảy vào khoang mũi. Từ đây, thuốc vào máu và tới những cơ quan khác của cơ thể, có thể gây tác dụng phụ nghiêm trọng. Ví dụ thuốc điều trị glôcôm Timolol có thể gây biến chứng cho tim.

Các nhà nghiên cứu đã tìm ra cách đưa thuốc vào kính áp tròng, cho phép đưa thuốc trực tiếp vào mắt. Thuốc có chứa trong kính áp tròng có thể được giải phóng chậm đủ để lưu lại ở mắt. Theo lý thuyết, kính áp tròng chứa thuốc dùng một lần có thể được đeo trong 2 tuần.

Trong tương lai, kính áp tròng chứa thuốc có thể giúp điều trị các bệnh mắt như glôcôm. Thay vì phải tiếp xúc với liều thuốc cao đột ngột từ thuốc nhỏ mắt, bệnh nhân glôcôm lúc nào cũng nhận được lượng thuốc thích hợp. Kính áp tròng cũng có thể điều chỉnh thị lực nếu cần thiết.

Các nhà khoa học cho rằng các thuốc khác như kháng sinh, cũng có thể được đưa vào kính áp tròng. Kính áp tròng giải phóng thuốc vẫn còn ở giai đoạn thiết kế ban đầu và chưa được thử nghiệm trên động vật hoặc trên người.
(WebMD Health)